Giới thiệu Dfinity và Internet Computer

0x0B88
April 22nd, 2022

Dfinity là một trong những nền tảng smart contract tồn tại sớm và tốt nhất trong thế giới crypto. Tuy vậy, hầu hết chúng ta không hiểu sâu về nền tảng này. Lí do là bởi bản chất kỹ thuật phức cũng như tầm nhìn trừu tượng của nó. Việc dự án cuối cùng cũng cho ra mắt token và công khai mã nguồn mở của sẽ kích thích nhiều sự quan tâm và tìm hiểu về dự án.

Chúng ta đã chứng kiến công nghệ blockchain, chẳng hạn như “máy tính thế giới” Ethereum đầy tham vọng, được áp dụng để giải quyết các vấn đề trong tài chính truyền thống hay analog collectibles. Tuy nhiên, Dfinity đang nhắm tới giải quyết các vấn đề liên quan đến internet truyền thống. Hiện nay, hầu hết nội dung, chức năng và dữ liệu người dùng tồn tại trong hệ sinh thái độc quyền do các công ty công nghệ lớn kiểm soát. Lời giải cho bài toán này của Dfinity chính là Internet Computer với mục tiêu định hình lại hệ thống CNTT nơi các nhà phát triển có thể xây dựng và lưu trữ phần mềm độc lập không lệ thuộc vào các công ty công nghệ lớn độc quyền đang kiểm soát dữ liệu người dùng ngày nay.

Giới thiệu về Dfinity và Internet Computer

Từ năm 2016, Dfinity đã tập trung vào việc xây dựng “Internet Computer”, một mạng blockchain phi tập trung với mục tiêu mở rộng chức năng của Internet. Vấn đề mà Dfinity đang giải quyết mở rộng ra ngoài phạm vi công nghệ blockchain. Nó mong muốn xây dựng một nền tảng dạng đám mây phi tập trung, có thể mở rộng, lưu trữ dữ liệu, thực hiện tính toán và hỗ trợ quản trị dựa vào cộng đồng. Nó giải quyết các vấn đề còn nan giải đối với Internet truyền thống, chẳng hạn như bảo mật dữ liệu thấp và sự độc quyền của công ty công nghệ lớn.

Khi được hỏi về những ví dụ tương tự như Internet Computer, những người có kinh nghiệm trong thị trường crypto thường nghĩ ngay đến Ethereum “máy tính thế giới” hay “meta-protocol” của Polkadot. Tuy thế, mục tiêu thực sự của Dfinity là định nghĩa lại nhiệm vụ và vai trò của blockchain. Mặc dù iteration đầu tiên của Dfinity trông có vẻ như một ETH 2.0, phạm vi của nó hiện đã mở rộng ra ngoài khả năng cơ sở của Ethereum. Dfinity muốn rằng, chính internet phải hỗ trợ các ứng dụng phần mềm và lưu trữ dữ liệu, thay vì chỉ cung cấp kết nối ngang hàng và để các dịch vụ lưu trữ đám mây độc quyền xử lý phần còn lại.

Internet Computer (IC) không chỉ đơn giản là xây dựng một sổ cái bất biến mà hơn thế, nó mong muốn xây dựng một Internet mở. Internet kết nối hàng tỷ người thông qua các giao thức TCP / IP. Giao thức Internet Computer (ICP) nhằm mục đích đưa khái niệm này tiến thêm một bước nữa bằng cách cung cấp một nền tảng máy tính công cộng để các nhà phát triển, doanh nghiệp và cơ quan chính phủ có thể triển khai phần mềm và dịch vụ trực tiếp lên internet công cộng. Giống như Ethereum, nền tảng này sẽ cho phép các nhà phát triển chạy các ứng dụng điện toán trên cơ sở hạ tầng phi tập trung. Nhưng khác với Ethereum, IC dự định giúp các công ty chạy các ứng dụng này trên quy mô lớn một cách hiệu quả và cung cấp tính linh hoạt để xây dựng chúng sao cho phù hợp với nhu cầu cụ thể của người dùng (ví dụ: quyền riêng tư).

Trong bối cảnh internet hiện tại, các công ty công nghệ lớn kiểm soát nội dung và dữ liệu do người dùng tạo. Các thuật toán và hệ thống đằng sau các nền tảng này là độc quyền. Một số tảng công nghệ lớn như Twitter và Google nắm nhiều quyền kiểm soát đối với cách người dùng tương tác với nhau và cả cách họ tương tác với các dịch vụ của bên thứ ba bên ngoài nền tảng.

Người sáng lập Dominic Williams đã trích dẫn rằng Internet đã trở nên độc quyền và mang tính công ty hơn nhiều. Các đơn vị công nghệ như Facebook hoặc Amazon Web Services (AWS) có thể thay đổi các thông số nền tảng và quyền truy cập mà không cần thông báo trước, khiến người dùng và các công ty dựa vào các dịch vụ này gặp rủi ro cao. Zygna, một công ty trò chơi, đã bị tước quyền khi Facebook thay đổi các quy tắc của mình. Fortnite đã bị xóa khỏi Google và App Store của Apple sau khi từ chối chia sẻ 30% doanh thu. Twitter hạn chế việc sử dụng API của mình vào năm 2012, làm tê liệt sự phát triển của các ứng dụng bên thứ ba và hạn chế khả năng sử dụng dữ liệu từ mạng của Twitter đối với các thực thể không phải là đối tác. LinkedIn đã làm điều tương tự vào năm 2015.

Việc hạn chế quyền truy cập của các nhà phát triển bên thứ ba có thể đình trệ các phát kiến mới, do các doanh nhân phải đối mặt với 'rủi ro nền tảng' (platform risk). Đáp lại, IC hy vọng sẽ mang đến một thế hệ phần mềm và dịch vụ mới có nguồn mở. Nó không chỉ nhằm mục đích giảm rủi ro nền tảng mà còn giảm độ phức tạp trong việc xây dựng và bảo trì hệ thống. Điều này cũng sẽ giúp đẩy nhanh thời gian các nhà phát triển tung ra một sản phẩm mới. Được thực thi một cách đúng đắn, Dfinity hy vọng sẽ cung cấp blockchain đầu tiên xử lý ở tốc độ web và có thể mở rộng quy mô để hỗ trợ bất kỳ khối lượng tính toán smart contract nào và bất kỳ lượng dữ liệu nào.

IT stack mới này cũng có nhiều yêu cầu về phần cứng hơn. So với các mạng như Ethereum, hoạt động của IC cũng sẽ dựa nhiều hơn vào các trung tâm dữ liệu lớn và các máy node (node machines) cao cấp (validators). Tuy nhiên, ưu điểm của nó giúp mở ra các trường hợp sử dụng và khai thác dữ liệu hoàn toàn mới, dễ tiếp cận hơn và sử dụng ít dữ liệu hơn. Các ứng dụng này có thể bao gồm khả năng tương tác, quyền riêng tư, tính bảo mật và tính mở. Các trường hợp sử dụng bao gồm mạng xã hội, bảo mật tin nhắn, tìm kiếm, lưu trữ và tương tác internet ngang hàng. Nếu IC thành công trong việc thay thế các di sản công nghệ thông tin hiện tại (IT legacy), các dịch vụ DNS tập trung, chương trình chống vi-rút, tường lửa, hệ thống cơ sở dữ liệu, dịch vụ đám mây và VPN sẽ trở nên dư thừa và không cần thiết.

Tóm lại, đề xuất mới của Dfinity dành cho các nhà phát triển muốn một giải pháp mới, các lợi ích của việc bắt đầu xây dựng trên internet bao gồm:

  • Chi phí thiết lập: Các nhà phát triển không phải đăng ký dịch vụ từ nhiều nhà cung cấp.
  • Chi phí vận hành: Một giao thức an toàn có nghĩa là chi phí vận hành để duy trì sự an toàn và đối phó với sự phức tạp sẽ giảm xuống.
  • Phát triển: Dfinity đề xuất rằng Internet Computer sẽ tái thiết lại phần mềm, đơn giản hóa quá trình xây dựng và bảo trì hệ thống. Điều này giúp các nhà phát triển có nhiều thời gian hơn để tập trung vào trải nghiệm người dùng
  • Tính mở: IC giới thiệu một phần mềm mở đảm bảo quyền sử dụng các chức năng thông qua API cho các dịch vụ khác

Lịch sử của Dfinity

Tương tự như cách nền tảng Polkadot được xây dựng bởi Parity và Web3 Foundation, Internet Computer được xây dựng bởi Tổ chức Dfinity. Tổ chức phi lợi nhuận này được thành lập vào năm 2016 bởi doanh nhân công nghệ Dominic Williams, người hiện là Chief Scientist của Dfinity. Internet Computer là đỉnh cao của 5 năm nghiên cứu và phát triển bởi các nhà mật mã học và các chuyên gia hàng đầu trong các hệ thống phân tán và ngôn ngữ lập trình. Dfinity hiện có gần 100.000 trích dẫn học thuật và 200 bằng sáng chế.

Dfinity là một trong những dự án được cấp vốn và công khai tốt nhất trong giới crypto. Mainnet ra mắt vào ngày 7 tháng 5 năm 2021 và token của nó dự kiến sẽ ra mắt công khai vào ngày 10 tháng 5. Dự án đã bắt đầu gây quỹ trước khi bùng nổ ICO với mã $DFN mà sau này được đổi thương hiệu thành $ICP. Sau Polkadot, Dfinity là dự án huy động được nhiều vốn nhất. Nó cũng đã huy động được số tiền không bị đóng băng nhiều nhất là 160 triệu đô la cho đến nay:

Tồn tại một số tranh cãi về các vòng gây quỹ của Dfinity trên các phương tiện truyền thông. Theo Dfinity, họ có ba vòng chính và một sự kiện airdrop:

  1. Vòng hạt giống, tháng 2 năm 2017: Vòng này được công bố bằng một tweet và mở cho công chúng bằng cách tải xuống một mở rộng web (web extension). Dfinity đã huy động được 3,9 triệu CHF (3,9 triệu đô la Mỹ) từ 370 người tham gia, với mức định giá 16 triệu đô la hay 0,03 đô la cho mỗi token. Nó đã nắm giữ một phần số tiền này bằng ETH và BTC trong đợt tăng giá tiền điện tử năm 2017. Theo nhóm nghiên cứu, tại một thời điểm, Dfinity đã biến các khoản phân bổ ETH và BTC trước đó thành 40 triệu đô la. Dfinity đã hứa với các nhà đầu tư Seed này rằng vòng tiếp theo sẽ là một sự kiện gây quỹ chính trị giá 20 triệu CHF, tương tự như một ICO. Tuy nhiên, sau năm 2017 bùng nổ, dự án đã nhận ra định giá mục tiêu ban đầu là quá thấp. Hơn nữa, Dfinity cũng chỉ ra rằng nó không thiếu hụt nguồn vốn ngay lập tức nào và việc chạy một đợt gây quỹ ICO có thể sẽ đặt nó vào bất lợi pháp lí có liên quan tới luật chứng khoán. Như một sự cân bằng, để thưởng cho những người tham gia sớm, nhóm đã hứa rằng các nhà đầu tư Seed sẽ được thưởng 24,72% số token tại genesis.
  2. Vòng Chiến lược, tháng 1 năm 2018: Dfinity đã huy động được 20,54 triệu đô la cho 7,00% nguồn cung ban đầu (con số đã được sửa đổi từ 6,84%). Việc phân bổ này sẽ diễn ra hàng tháng trong vòng ba năm kể từ khi ra mắt mainnet (tháng 5 năm 2021). Thành phần tham gia bao gồm Polychain Capital, Andreessen Horowitz, CoinFund, Multicoin Capital và Greycroft Partners. Vòng này đánh dấu token a16z đầu tiên nhận được đầu tư. Polychain và Dfinity sau đó đã hợp tác để tạo ra “Quỹ đầu tư mạo hiểm hệ sinh thái DFINITY” với quy mô không được tiết lộ. Mục tiêu là tài trợ cho các dự án mới có thể phát triển hệ sinh thái ứng dụng của IC. Các phương tiện truyền thông đưa tin rằng Dfinity đã huy động được số tiền lớn hơn nhiều con số 61 triệu USD. Có thể số tiền chênh lệch này đã được sửa đổi hoặc đưa vào quỹ cho Quỹ đầu tư mạo hiểm hệ sinh thái.
  3. Private sale tháng 8 năm 2018: 110 người tham gia đã đóng góp 97 triệu đô la cho 4,96% nguồn cung ban đầu, giá 4 đô la cho mỗi ICP token. Con số này đã được điều chỉnh từ 4,75% được báo cáo trước đó. Sự phân bổ token này đi kèm với một lịch trình vesting hàng tháng trong một năm kể từ khi ra mắt mainnet. Việc vesting sẽ bắt đầu tại sự kiện phân phối token đầu tiên vào ngày 10 tháng 5 năm 2021. Thành phần tham gia vòng này bao gồm Andreessen Horowitz, Polychain Capital, SV Angel, Aspect Ventures, Electric Capital, ZeroEx, Scalar Capital và Multicoin Capital.
  4. AirDrop, tháng 5 năm 2018: lượng ICP token tương ứng với 35 triệu đô la (trước đây là DFN), hay 0,80% nguồn cung ban đầu, đã được airdrop cho những người ủng hộ sớm có tên trong danh sách gửi mail, forums, slack và cộng đồng của dự án. Tại thời điểm này, định giá đạt 1,89 tỷ USD. Những người tham gia Airdrop đã nhận được IOU của ICP token vào tháng 9 năm 2020. Các token này sẽ có thể chuyển nhượng vào ngày 10 tháng 5 năm 2021.

Sẽ có 469.213.710 ICP token tại genesis và token supply này sẽ được phân phối như sau. Bảng dưới đây tóm tắt các vòng, thông tin cũng có trong bảng tính tại link này.

  • 24,72% cho Nhà đầu tư hạt giống: những người đã đầu tư vào tháng 2 năm 2017 với tổng số tiền là 3,9 triệu CHF (Franc Thụy Sĩ)
  • 23,9% cho Quỹ Dfinity: Quỹ Dfinity quản lý số vốn huy động được từ việc bán token. Nó cũng giám sát Foudation Endowment của ICP. Những token này do Quỹ nắm giữ hoặc đã được Quỹ chi tiêu để tài trợ cho R&D, vận hành, mua lại công nghệ, tài trợ cho các chương trình xây dựng cộng đồng và các ưu đãi đối tác.
  • 18,0% cho Team Member: Có ~ 200 thành viên trong nhóm
  • 9,5% cho Người đóng góp sớm: đây là 50 người đã giúp đỡ trong nhóm trước khi thành lập Quỹ
  • 7,0% cho Nhà đầu tư chiến lược: từ khoản huy động 20,54 triệu đô la từ Polychain Capital, Andreessen Horowitz, CoinFund , Multicoin Capital và Greycroft Partners
  • 4,96% cho Private Presale Investor: từ 97 triệu đô la được huy động từ a16z, Polychain, SV Angel, Aspect Ventures, Electric Capital, ZeroEx, Scalar Capital và Multicoin Capital

Dfinity đang phát triển mạng lưới trung tâm dữ liệu và nhà phát triển. Tại thời điểm ra mắt, 12 trung tâm dữ liệu độc lập chạy 7 mạng con với 68 node - các “node” IC tương tự như “validators” của ETH2. Dự án hy vọng số lượng trung tâm dữ liệu IC và các nhà khai thác node sẽ tăng dần sau khi ra mắt để hỗ trợ hệ sinh thái ứng dụng của mạng (xem chi tiết bên dưới). Nhóm nghiên cứu đặt mục tiêu đạt 123 trung tâm dữ liệu chạy 4.300 node vào cuối năm 2021. Dfinity hy vọng cuối cùng sẽ mở rộng quy mô lên hàng nghìn trung tâm dữ liệu chạy hàng triệu node trong tương lai.

Team background (thông tin về nhóm thành lập)

Dfinity được thành lập vào năm 2016 bởi Dominic Williams. Dfinity Foundation có khoảng 200 người trong nhóm cốt lõi. Những người đóng góp đáng chú ý được nhóm và phương tiện truyền thông đề cập bao gồm:

  • Dominic Williams, Chief Scientist: Williams là một serial entrepreneur, người đã tạo ra một dịch vụ lưu trữ tệp và trò chơi trực tuyến nhiều người cùng chơi cho trẻ em theo chủ đề bộ sưu tập quái vật. Các máy tính phân tán được sử dụng để lưu trữ danh sách các trận đánh và phần thưởng vàng nugget, kết nối các trò chơi với nhau. Williams cũng muốn tạo ra một loại tiền trong trò chơi và xem xét các ý tưởng Proof of Stake, mặc dù công nghệ này vẫn còn sơ khai. Williams đã bắt đầu nghiên cứu toàn thời gian về crypto từ năm 2014. Williams đã thiết kế Internet Computer's Threshold Relay.
  • Jan Camenisch, Phó Chủ nhiệm Bộ phận Nghiên cứu & Crypto: Trước khi gia nhập Dfinity, Jan đã làm việc tại IBM Research, nơi anh lãnh đạo nhóm nghiên cứu Mật mã và Quyền riêng tư và là thành viên của Học viện Công nghệ IBM. Ông đã xuất bản 130 bài báo và nắm giữ 140 bằng sáng chế.
  • Johan Georg Granström, Giám đốc kỹ thuật: Granström đến từ Google, nơi ông từng là giám đốc công nghệ chính tại YouTube.
  • Andreas Rossberg, Nhà nghiên cứu và Kỹ sư: Rossberg trước đây làm việc tại Google và đã dành thời gian làm trưởng nhóm ngôn ngữ JavaScript tại Chrome V8. Anh ấy cũng là người đồng sáng tạo ra WebAssembly, một loại mã mới có thể chạy trong các trình duyệt web hiện đại, cũng được sử dụng tại Dfinity. Ông cũng đã tạo ra ngôn ngữ lập trình Motoko của Internet Computer.
  • Benjamin Lynn, Kỹ sư: Lynn là chữ “L” trong BLS Signatures, được giới thiệu trong một báo cáo vào năm 2001 và kể từ đó ngày càng trở nên ngày càng quan trọng trong mật mã học. Một trong những dịch vụ công nghệ của Dfinity là secure randomness beacon (chỉ dẫn ngẫu nhiên an toàn), dựa trên Hàm ngẫu nhiên xác minh được có ngưỡng (threshold VRF). Điều này có nghĩa là tính ngẫu nhiên có thể được nhân rộng, dưới điều kiện không đổi. Đó là một hàm giả ngẫu nhiên cung cấp bằng chứng có thể xác minh được về tính đúng đắn của đầu ra. Mật mã BLS được sử dụng để tạo ra tính ngẫu nhiên và đạt được tính bảo mật, tốc độ và quy mô trong các mạng công cộng. Trước đó, Lynn làm việc tại Google và có bằng Tiến sĩ tại khoa Khoa học Máy tính của Đại học Stanford.
  • Timo Hanke, Nhà nghiên cứu chính: Hanke là một cựu giáo sư toán học và mật mã. Sau đó, vào năm 2014 anh ấy gia nhập CoinTerra, một nhà sản xuất các ASIC khai thác Bitcoin và hệ thống, nơi anh ấy làm Trưởng phòng Nghiên cứu và sau đó là CTO. Hanke đã nộp một số bằng sáng chế về tối ưu hóa ASIC để khai thác Bitcoin. Anh ấy đã phát minh ra một phương pháp có tên AsicBoost giúp cải thiện 20% chi phí và hiệu quả khai thác Bitcoin.
  • Mahnush Movahedi, Nhà nghiên cứu cao cấp: Movahedi đến từ Đại học Yale, nơi cô làm việc về các thuật toán phân tán có thể mở rộng và chịu lỗi cho cơ chế đồng thuận và bảo mật tính toán nhiều bên (secure multi-party computation), chia sẻ bí mật (secret sharing) và giao tiếp tương tác (interactive communication) qua các kênh nhiễu.

Công nghệ

Mục đích của Internet Computer là mở rộng Internet công cộng, như vậy, nó cũng chính là nền tảng máy tính của thế giới. Dfinity vừa công khai mã nguồn vào ngày 10 tháng 5 năm 2021. Trước đó, thông tin kỹ thuật và thiết kế của ICP cũng như công nghệ mật mã tạo nên Internet Computer vẫn chưa được biết đến. Tuy nhiên, công chúng vẫn biết rằng công ty và công nghệ vẫn tiếp tục được phát triển nhờ việc thảo luận, bác bỏ hay thay đổi một số phương pháp trong những năm qua. Dưới đây, chúng tôi tóm tắt những gì Dfinity và cộng đồng của nó đã chia sẻ công khai:

Internet Computer là một giao thức máy tính blockchain, được xây dựng từ hệ thống phân cấp của các thành tố. Ở dưới cùng của kim tự tháp là các trung tâm dữ liệu độc lập trên khắp thế giới. Chúng lưu trữ phần cứng node dành riêng cho ICP, phần cứng này giao tiếp để đạt được sự đồng thuận về trạng thái của IC. Một tập hợp các node, đảm bảo sự phân quyền, được gọi là mạng con.

Mạng con được ví như các blockchains trong IC là các đơn vị cơ bản của mạng tổng thể. Chúng chịu trách nhiệm lưu trữ một tập hợp con riêng biệt của canister. Canister là một tập hợp mã mà các nhà phát triển có thể tạo ra từ bất kỳ ngôn ngữ lập trình cấp cao nào (như Rust, hoặc ngôn ngữ riêng của Dfinity là Motoko) để tạo thành các chương trình. Các chương trình có thể bao gồm các trang web đơn giản, ứng dụng phi tập trung hoặc thậm chí toàn bộ phần mềm doanh nghiệp. Ví dụ, một phiên bản mở của Facebook sẽ được lưu trữ trong hàng triệu canister. Trạng thái của các canister này được sao chép trong tất cả các node.

Vì canister chứa là đơn vị tính toán bao gồm cả code và dữ liệu - chúng có thể được ví như smart contract Ethereum nâng cao hoặc hệ điều hành Windows. Ví dụ: một hệ điều hành có thể thực hiện các quy trình nhất định như thao tác với tệp và giao tiếp với các thiết bị lân cận. Tương tự, IC cung cấp các API được chỉ định công khai cho các canister để chúng có thể tương tác với nhau, thực hiện thanh toán, tạo và quản lý các canister khác, quản lý quyền và lấy thời gian của hệ thống. Tuy nhiên, không giống như một hệ điều hành, một canister được sao chép trên tất cả các node trong mạng con.

Để IC có thể mở rộng quy mô một cách an toàn, có thể thêm mới các tính năng mới hoặc chịu được các sự kiện không thể đoán trước như thiên tai - số lượng và thành phần của các mạng con có thể được điều chỉnh. Ví dụ, các mạng con mới có thể được thêm vào hoặc tách ra, các node có thể được thêm vào, kết thúc hoặc di chuyển. Do đó, IC cần có khả năng quyết định cách phát triển giao thức. Network Nervous System (NNS) được tạo ra để đảm bảo nhiệm vụ này.

Network Nervous System

Một mạng con được tạo ra bởi NNS, một hệ thống quản trị theo thuật toán mở để giám sát toàn bộ network. Như được gợi mở bởi chính cái tên của nó, đó là hệ thống thần kinh - kiểm soát tất cả các khía cạnh của network. Các chức năng chính của nó bao gồm:

  • chia nhỏ và hợp nhất các mạng con để cân bằng tải trên toàn bộ mạng tổng thể. Ví dụ, một mạng con có thể có hàng chục canister và nếu NNS tách mạng con ra, một phần của các canister sẽ ở lại với mạng con ban đầu trong khi phần còn lại sẽ được lưu trữ dưới mạng con mới.
  • nâng cấp giao thức và phần mềm được sử dụng bởi các máy node.
  • kết hợp các máy node khác nhau từ các trung tâm dữ liệu khác nhau. Điều này có thể do một số yếu tố, chẳng hạn như yêu cầu của mạng, mức độ bảo mật mong muốn, dung lượng khả dụng tại các trung tâm dữ liệu và lỗi phần cứng không thể đoán trước.
  • quy định các thông số kinh tế kiểm soát số tiền người dùng phải trả cho việc tính toán.
  • bảo vệ mạng khỏi các cá nhân gây hại.

Độ mạnh (Robustness) của các mạng con có thể được cải thiện bằng cách thêm các node mới vào theo thời gian. Các node này cộng tác bằng cách sử dụng các giao thức máy tính chuỗi khối ICP để sao chép dữ liệu và tính toán cho các canister mà chúng lưu trữ. Giao thức có thể thay thế các node bị lỗi hoặc không có thông tin bằng các node mới và cũng có thể khôi phục toàn bộ mạng con nếu quá nhiều node bên trong bị lỗi. Điều này cho phép ICP liên tục sửa các lỗi mạng và cập nhật các tính năng mới.

NNS có hai canister quan trọng: (1) canister đăng ký, lưu trữ cấu hình của toàn bộ IC công khai và (2) canister quản trị, lưu trữ các đề xuất và nơ-ron (được cấp khi người tham gia stake ICP), để xác định ai được phép tham gia quản trị. Chúng tôi sẽ trình bày thêm về vai trò này trong phần Quản trị bên dưới.

Tốc độ

Ban đầu (at genesis), IC sẽ có tốc độ khối là một khối mỗi giây (1 bps), sau đó sẽ tăng lên ~ 1.000 bps vào cuối năm nay. Theo Williams, về mặt lý thuyết, tốc độ khối có thể tăng không giới hạn. Điều này dường như là không tưởng theo quan điểm blockchain truyền thống nhưng lại là khả thi với Công nghệ Chìa khóa Chuỗi (Chain-Key Technology - CKT).

CKT cho phép IC hoàn tất các giao dịch và cập nhật dữ liệu chỉ trong vài giây. Nó bao gồm một tập hợp các giao thức mật mã sắp xếp (orchestrate) các node, cho phép IC có một khóa công khai duy nhất. Điều này có nghĩa là bất kỳ thiết bị nào cũng có thể nhanh chóng xác minh tính xác thực của dữ liệu trên IC. Công nghệ Chìa khóa Chuỗi cho phép các canister (được ví như một hợp đồng thông minh tiên tiến) kết nối với bất kỳ canister lưu trữ trên bất kỳ mạng con nào (được ví như một chuỗi khối). Mô hình phân phối này không sử dụng một trung tâm, không giống như mô hình hub-and-spoke của Polkadot. IC hy vọng sẽ mang lại khả năng tổng hợp dịch vụ (service composability). Ví dụ, đối với phiên bản “mở” của Facebook, bất kỳ ứng dụng nào khác đều có quyền gọi (call) “Facebook mở” để xem code hoặc dữ liệu của trò chơi hay bộ lọc ảnh.

IC có thể lưu trữ số lượng hợp đồng thông minh vô tận, đồng nghĩa với việc toàn bộ dữ liệu sẽ được lưu onchain. Để khắc phục các vấn đề về mở rộng quy mô, ICP execute đồng thời rất nhiều các canister. Điều này có nghĩa là blockchain mặc định được phân mảnh (sharded). Tuy nhiên, các blockchain phân mảnh (shared blockchain) không giao tiếp với nhau real-time.

Các yêu cầu cập nhật (update request) có thể được hoàn thành bởi canister trong chỉ vài giây, tuy bị giới hạn bởi thông lượng của blockchain. Tuy nhiên, các yêu cầu truy vấn không tạo ra thay đổi này sẽ bị loại bỏ sau khi được thực thi. Một canister có thể phục vụ hàng trăm truy vấn cùng một lúc, không tốn kém với tốc độ hoàn thành chỉ vài mili giây. Điều này cho phép người dùng tận hưởng trải nghiệm quen thuộc trên internet truyền thống.

Ví dụ, Dscvr.one là Reddit phiên bản của IC. Khi người dùng duyệt qua diễn đàn, các chế độ xem tùy chỉnh sẽ được gửi từ trình duyệt web của họ bằng các lệnh gọi truy vấn, chạy trong mili giây trên một node lân cận. Tuy nhiên, nếu người dùng muốn viết một bài đăng hoặc bình luận cho tác giả, một lệnh yêu cầu cập nhật sẽ được thực hiện, mất khoảng vài giây. Trong tương lai, sự chậm trễ này có thể được che giấu bằng “thực thi lạc quan” (optimistic execution) - tức là giả định một cách lạc quan rằng khoản giao dịch là hợp lệ và sẽ thành công, nhưng mặt hạn chế là sau đó giao dịch có thể bị từ chối và đẩy ngược lại cho người dùng.

Sự đồng thuận

Do ICP tập hợp các máy khác nhau trên khắp thế giới, mỗi máy (hoặc các bản sao) phải đồng thuận về việc các đầu vào nào cần được xử lý và xử lý theo trình tự nào. Điều này đảm bảo rằng hệ thống duy trì trạng thái chính xác. Mỗi phần mềm đều được thực thi và sao chép bởi nhiều máy node trên toàn thế giới và chỉ phần lớn các node được yêu cầu xác định trạng thái thực của phần mềm. Điều này cho phép đồng thuận không bị ảnh hưởng kể cả trong các trường hợp ngoại lệ hay máy báo cáo trạng thái lỗi.

Mỗi mạng con có một khóa xác minh công khai duy nhất và vĩnh viễn trong suốt thời gian tồn tại của nó. Các node trong mạng con sẽ cần phải đồng thuận (bằng cách đạt đến một ngưỡng nhất định) và cộng tác để ký một thông báo, vì vậy mạng con có thể tạo chữ ký thay mặt cho các canister của nó. Ngưỡng này chỉ yêu cầu một số lượng node nhất định, không yêu cầu tất cả các node đều cần phải đồng thuận - như vậy các node bị trục trặc hoặc giả mạo sẽ không thể ngăn mạng hoạt động.

Tạo khóa phân tán không tương tác

Trên IC, tập hợp các node chạy một mạng con có thể thay đổi khi các node được thêm mới hoặc bị loại ra khỏi mạng con tương ứng của chúng. Với các node đang hoạt động, điều đó có nghĩa là tập hợp những node có thể kí giao dịch bị thay đổi theo thời gian, cản trở khả năng các node đăng ký và phân phối khóa công khai mới. Dfinity đã giới thiệu Thế hệ khóa phân tán không tương tác (Noninteractive Distributed Key Generation) (NI-DKG) như một giải pháp cho vấn đề này - nhằm đơn giản hóa việc quản lý khóa bằng cách luôn tham chiếu đến cùng một mạng con bằng khóa công khai tĩnh.

NI-DKG giúp thực hiện bảo mật một cách chủ động. Giao thức chia sẻ lại (resharing protocol) này lý tưởng cho môi trường không đồng bộ - cho phép thời gian khối được đẩy nhanh và mạng lưới có thể được mở rộng không giới hạn. Mỗi người ký (signer) cũ chỉ cần phát một tin nhắn cho những người ký mới. Để đảm bảo an ninh, nhiều kĩ thuật được sử dụng - bao gồm cả noninteractive zero-knowledge và mã hóa với bí mật chuyển tiếp (encryption with forward secrecy).

Ứng dụng của ICP token và Tokenomics

Có hai token gốc - ICP là token quản trị gốc được sử dụng để quản lý mạng và Cycles là một đồng ổn định (stable coin) được sử dụng để tri trả cho việc tính toán.

Các ICP token có 3 chức năng chính - hai trong số đó gây lạm phát và một gây giảm phát.

Hỗ trợ quản trị mạng (lạm phát)

CP token có thể được lock bên trong NNS, giao thức thuật toán quản lý mạng, để từ đó tạo các nơ-ron, đại diện cho quyền bỏ phiếu các đề xuất. Một nơ-ron khóa (lock) một số dư ICP token của người sở hữu và cho phép người đó tham gia quản trị mạng, và kiếm phần thưởng biểu quyết. Phần thưởng được trả bằng ICP. Mỗi tháng, NNS theo dõi tỷ lệ phiếu bầu mà nơ-ron tham gia để trả phần thưởng theo tỷ lệ. Để tối đa hóa sự tham gia bỏ phiếu và phần thưởng khi bỏ phiếu, người dùng có thể ủy thác phiếu bầu cho nơ-ron đáng tin cậy khác.

Việc đổi các nơ-ron để rút ICP ra không diễn ra tức thì mà cần một khoảng thời gian "giải thể" (dissolving). Người dùng có thể chỉ định khoảng thời gian “giải thể” này. Thời gian trễ giải thể càng lâu, sức mạnh biểu quyết của nơ-ron càng lớn và phần thưởng biểu quyết càng lớn. Điều này tương tự với Curve Finance, trong đó khoảng thời gian giải thể dài hơn (không thể thay đổi) lên đến 4 năm sẽ tăng cường quyền biểu quyết giúp liên kết những người biểu quyết với sự thành công lâu dài của mạng lưới. Khoảng thời gian “giải thể” chỉ định này có thể được tăng lên mà không thể bị giảm đi. Để bắt đầu đếm ngược mở khóa, người dùng có thể đặt nơ-ron vào  chế độ “giải thể”. Hiện tại, để được tham gia biểu quyết, khoảng thời gian giải thể phải được thiết lập trong khoảng từ sáu tháng đến tám năm.

Một cách khác để các nơ-ron tăng quyền biểu quyết và phần thưởng là tồn tại lâu hơn, được đo bằng thời gian trôi qua kể từ lần cuối cùng được đặt ở chế độ giải thể. Do đó, 370 nhà đầu tư token sớm trong vòng hạt giống đã có khởi đầu trước mọi người. Họ có thể chọn thời gian giải thể lâu hơn để tận dụng lợi thế của việc tồn tại lâu từ trước đó hoặc họ có thể cho giải thể nơron của mình để lấy ICP token của họ.

Thưởng tham gia (Lạm phát)

Hệ thống mint các ICP token mới để thưởng cho những người tham gia then chốt. Ngoài phần thưởng biểu quyết cho những người tham gia quản trị, "phần thưởng tính toán" được trao cho những người vận hành các máy node lưu trữ mạng. NNS tạo ICP token mới để thưởng cho các node được điều hành bởi các trung tâm dữ liệu và nơ-ron. Chương trình phần thưởng này là lạm phát đối với tổng số cung cấp ICP token (làm supply tăng lên).

Tạo ra Cycles cho việc tính toán (Giảm phát)

ICP có thể được chuyển đổi thành Cycles như nhiên liệu cho việc tính toán bởi các canister. Tỷ giá hối đoái của ICP-Cycles phụ thuộc vào thị trường bên ngoài - chẳng hạn như việc đốt 1 SDR (tài sản do IMF tạo ra chứa USD, EUR, RMB, JPY và GBP) sẽ luôn tạo ra 1 nghìn tỷ Cycles. Terra cũng cung cấp một stablecoin dựa trên SDR được gọi là TerraSDR nhưng cơ chế burn ICP là một chức năng ổn định mới. Phần mềm canister phải được tri trả bằng Cycles, bị burn trong quá trình tính toán hoặc quản lý bộ nhớ. Khi số lượng máy tính trên mạng tăng lên, nhu cầu burn Cycles tăng lên và do đó, ICP cũng được burn nhiều hơn.

Không giống như Ethereum, ở IC, người dùng cuối không là người trả phí. Các nhà phát triển sẽ trả trước cho các canister bằng Cycles cho một lượng đơn vị tính toán nhất định. Trải nghiệm người dùng này là tương tự với internet truyền thống, nơi các nhà phát triển sẽ là người trả AWS cho các dịch vụ đám mây. Do đó, người dùng không cần sở hữu ICP token để tương tác với các dịch vụ hoặc thậm chí không cần biết nó đang chạy trên blockchain.

Việc burn các ICP token, chuyển đổi sang Cycles để cung cấp nhiên liệu cho việc tính toán là giảm phát. Về cơ bản, chủ sở hữu các trung tâm dữ liệu và nơ-ron trao đổi ICP token với chủ sở hữu và người quản lý canister. Những chủ sở hữu và người quản lý canister chuyển đổi ICP thành Cycles và những Cycles đó cung cấp nhiên liệu cho các canister để chúng có thể hoạt động.

Để tránh phí gas cao, Cycles là một loại tiền ổn định (stablecoin) để đảm bảo rằng chi phí tính toán không dao động theo giá trị của ICP. Bởi, thứ nhất, cơ chế chuyển đổi luôn cho phép đổi 1 triệu cycles lấy số ICP token có giá trị 1 SDR. Thứ hai, nếu có một lượng Cycles dư thừa, người dùng không cần phải chuyển ICP của họ mà họ có thể mua các Cycles được định giá thấp trên thị trường, burn và lấy nhiên liệu thực hiện tính toán. Cuối cùng, khi tất cả các Cycles dư thừa bị burn, giá trị sẽ trở lại mức cố định của nó. Chỉ khi nào điểm cân bằng được ghi nhận trở lại, người dùng mới đốt ICP để tạo ra Cycles. Sau nhiều iteration của các stablecoin theo thuật toán và stablecoin thế chấp, Dfinity đưa ra một phương pháp mới, giúp tạo ra giá trị ổn định.

Để giữ cho phí gas thấp và khả năng mở rộng quy mô vô hạn, CKT được áp dụng. IC có thể - theo cách đủ bảo mật và ổn định (resilience) - nhân bản tính toán và dữ liệu (không liên quan đến quản trị) trên ít nhất bảy máy node quản lý bảy trung tâm dữ liệu độc lập. Do đó, mặc dù bộ nhớ canister trên IC có giá tương đối đắt ở mức $5 cho mỗi GB mỗi năm, hệ thống cho phép sử dụng bộ nhớ đó một cách hiệu quả. Mức này tương đối rẻ nếu chúng ta so sánh nó với các blockchain khác. Để so sánh, một báo cáo tháng 6 năm 2017 ước tính rằng nếu người dùng cố gắng lưu trữ và gửi dữ liệu vô thời hạn trên Ethereum, chi phí sẽ là 4,7 triệu đô la cho mỗi GB. Điều đó cho thấy rằng, các blockchain như Ethereum không được thiết kế để lưu trữ số lượng lớn dữ liệu, chẳng hạn như hình ảnh, video và âm thanh.

Cycles được sử dụng thậm chí ở lớp ứng dụng. Do đó, những người mua tự nhiên của ICP token bao gồm những người muốn tham gia vào quản trị mạng, các nhà phát triển và cả những người cần chuyển đổi ICP thành Cycles để trả tiền cho việc tính toán. Cuối cùng, các dịch vụ internet mở sẽ được xây dựng từ code tự quản được quản lý bởi hệ thống quản trị mã hóa mở, có chức năng tương tự như NNS. Ngoài ra, mỗi canister có thể tạo token của riêng mình nếu có nhu cầu, giữ lại hoặc gửi đi bất kỳ số tiền nào đến các canister khác như một phần của các lệnh gọi (truy vấn hoặc cập nhật). Mục tiêu sau cùng là mỗi dịch vụ internet đều có một token quản trị riêng, được sử dụng để quyết định quyền bỏ phiếu và phân phối giá trị do hệ thống tự quản tạo ra. Mỗi hệ thống quản trị sẽ có sàn giao dịch tài chính phi tập trung riêng với token quản trị có thể được trao đổi thành Cycles.

Nguồn cung ICP (ICP token supply)

Khi Quỹ Dfinity lần đầu tiên được thành lập, chỉ 9,5% số token đã được phân phối cho những người đóng góp sớm và phần còn lại không được phân phối. Vào ngày 10 tháng 5, trong bước phân tán (decentralization) cuối cùng, đề xuất “Genesis Unlock” sẽ kích hoạt NNS phát hành utility token ICP. Điều này cũng đồng nghĩa với việc hàng ngàn những người đang sở hữu token sẽ tạo ra "nơ-ron'' để kiểm soát NNS hay toàn bộ hệ thống.

Trong khi thời gian mở khóa các token phân phối cho các nhà đầu tư chiến lược và private sales được công khai, số lượng token được mở khóa từ Internet Computer Association, thành viên dự án, cố vấn, những nhà đầu tư sớm và Foundation, được giữ kín.

Do cơ chế quản trị và phần thưởng cho người tham gia, có khả năng phần lớn token sẽ bị khóa. Số lượng token bị khóa sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố:

Quản trị và Phần thưởng

Hệ sinh thái sẽ ghi nhận một điểm cân bằng của phần thưởng được để đạt được lượng tham gia tối ưu. Giả sử rằng Dfinity muốn 90% nguồn cung cấp token bị khóa trong các nơ-ron, phần thưởng sẽ được thiết kế đủ lớn để đáp ứng mục tiêu này. Cho mỗi một số lượng phần thưởng xác định, ít người tham gia đồng nghĩa với phần thưởng lớn hơn cho mỗi người tham gia, điều này sẽ thu hút nhiều người tham gia hơn (và do đó khóa các ICP token).

Ban đầu, số thưởng sẽ cần ở mức cao hơn do lúc này vẫn tồn tại nhiều rủi ro và nghi ngờ đối với hệ thống. Tuy nhiên, khi hệ thống dần ổn định, phần thưởng sẽ giảm theo thời gian, phản ánh rủi ro thấp hơn. Dựa trên ước tính lợi nhuận cần thiết theo tỷ lệ phần trăm của nguồn cung hiện tại, Dfinity sẽ bắt đầu bằng cách phân phối 10% nguồn cung mỗi năm, với số lượng giảm xuống 5% trong tám năm để phản ánh rủi ro thấp hơn và phần thưởng yêu cầu.

Curve Finance có cơ chế tương tự, với thời gian khóa tối đa là bốn năm. Tính đến thời điểm viết bài, 49,5% số CRV đang lưu hành bị khóa chức năng bỏ phiếu trong trung bình 3,7 năm. Nếu ICP tuân theo cơ chế đó, có thể một nửa số token đang lưu hành sẽ bị khóa chức năng bỏ phiếu trong gần tám năm.

Thanh toán trước

Các canister phải trả trước phí bằng cycles hay chính là ICP cho một lượng tính toán nhất. Điều này tương tự với Filecoin, nơi khách hàng khóa đủ tiền để tri trả toàn cho thỏa thuận lưu trữ.

Dựa trên thị trường IOU tại FTX, giá token là $180. Theo giá ICP-PERP của FTX, định giá vốn lưu hành (circulating market cap) là 22 tỷ đô la trong khi định giá pha loãng hoàn toàn (fully diluted market cap) là 85 tỷ đô la. Mức giá này thấp hơn so với mức đạt được vào tuần trước trên Hoo và MXC trong khoảng từ $350 đến $530 trong những ngày qua. Dự đoán của công chúng về sự ra mắt của IC đã đẩy giá IOU lên mức cao nhất lên tới 30x vào thời điểm cao nhất trong năm nay.

Điều này giúp ICP xếp hạng sáu về vốn hóa thị trường pha loãng hoàn toàn. Các sàn giao dịch lớn đang dần chú ý tới dự án. Vào ngày 4 tháng 5 năm 2021, Coinbase Pro thông báo sẽ niêm yết ICP khi ra mắt. Huobi, FTX cũng sẽ ra mắt ICP. Rất có thể, tất cả các sàn giao dịch lớn sẽ theo sau.

Trong tương lai, lượng cung cấp (supply schedule) ICP sẽ là không xác định bởi tồn tại các áp lực giảm phát và lạm phát. Áp lực giảm phát phụ thuộc vào lượng tính toán được đóng góp vào nền tảng, điều này phụ thuộc vào hoạt động của hệ sinh thái. Áp lực lạm phát dựa trên phần thưởng bỏ phiếu và tham gia. Hơn nữa, để tham gia vào mạng, các token được khóa trong các nơ-ron. Do đó, những token đó không có tính thanh khoản và có thể được tự do chuyển nhượng cho người khác.

Governance

Dfinity mong muốn Internet Computer sẽ hoạt động giống như một chính phủ kỹ thuật số. Hệ thống quản trị NNS chịu trách nhiệm về nhiều thứ, bao gồm quản lý việc bỏ phiếu, token và các trung tâm dữ liệu. Nó cũng giám sát các máy node, phát hiện các sai lệch có thể chỉ ra hành vi lỗi. Mặc dù NNS là một hệ thống quản trị mở, nó quản lí quyền tham gia vào mạng lưới. Một nhà cung cấp node tiềm năng có thể đăng ký ID Trung tâm Dữ liệu cho NNS. Sau khi được chấp thuận, nhà cung cấp node có thể mua các nút node chuyên dụng, cài đặt giao thức ICP và sau đó kết nối với mạng IC.

Bất kỳ ai trong mạng đều có thể khóa ICP để tạo một nơ-ron gửi đề xuất tới NNS, hoạt động giống như một tổ chức tự trị phi tập trung (DAO): những người tham gia mạng bỏ phiếu và quyết định cuối cùng được thực thi tự động bởi chính mạng đó. Đề xuất có thể được thông qua hoặc bị từ chối ngay lập tức hoặc sau một thời gian trễ, tùy thuộc vào quyết định của những người nắm quyền biểu quyết nơ-ron. Để tránh người dùng spam NNS với các đề xuất, một khoản phí tính trên nơ-ron sẽ được áp dụng với các đề xuất bị từ chối. Do đó, nơ-ron của người dùng (với ICP token đang được khóa) sẽ bị phạt.

Đặc biệt, NNS cho phép người tham gia thiết lập tùy chọn của họ trước khi bỏ phiếu cho một đề xuất, do đó, việc phát hành một phiếu bầu không còn là một quy trình thủ công. Như đã đề cập ở trên, phiếu bầu sau đó được người dùng bỏ phiếu thông qua các "nơ-ron" hoặc có thể được ủy quyền cho các bên đáng tin cậy khác.

Chính phủ kỹ thuật số cũng có một cơ chế siêu quản trị (meta-governance), khiến NNS có quyền thay đổi code trên các mạng con - kiểm soát toàn bộ các ứng dụng được hỗ trợ trong hệ sinh thái. Một mặt, điều này có nghĩa là các mạng con không có khả năng chống lại sự kiểm duyệt và sẽ nằm dưới sự kiểm soát của cộng đồng. Do đó, cộng đồng nằm toàn quyền quyết định. Điều này tương tự như internet truyền thống, nơi App Store có thể chọn xóa một ứng dụng nhất định hoặc công cụ tìm kiếm có thể quyết định trang web nào được xếp hạng phù hợp hơn những trang web khác.

Khái niệm siêu quản trị là tương đối mới. Việc Dfinity có hàm ý gì khi sử dụng khái niệm này là không chắc chắn. Trong tương lai, nếu có các phe phái khác nhau, cộng đồng có thể xoa dịu tất cả các bên (để tránh chia rẽ) bằng cách biểu quyết cho phép tồn tại một số hệ sinh thái rời rạc. Ví dụ, trong internet truyền thống, Youtube có hệ sinh thái dành cho người lớn và trẻ em tùy thuộc vào trải nghiệm người dùng mong muốn. Như với các lớp 1 (Layer-1) khác, rủi ro bị fork phần thưởng giảm đi khi lớp này dần trưởng thành và được bảo mật tốt hơn cùng với lượng giá trị được khóa tăng lên.

Hệ sinh thái ứng dụng

IC có thể được sử dụng để tạo ra nhiều loại sản phẩm mới. Ví dụ: nó có thể xây dựng các dịch vụ internet được mã hóa, hệ thống DeFi, hệ thống doanh nghiệp và trang web. IC cũng đang giới thiệu “Internet Identity”, giúp quản lý dữ liệu người dùng mà không có tên người dùng, mật khẩu hoặc khóa mật mã. ID internet có thể được sử dụng để đăng nhập vào ứng dụng, dưới sự bảo mật mật mã của Công nghệ khóa chuỗi. Điều này có nghĩa là người dùng không bị theo dõi bằng Cookie trên các trang web và dịch vụ và việc quản lý quyền riêng tư trở nên dễ dàng hơn.

Dfinity hy vọng sẽ thấy các phiên bản mở của Whatsapp, TikTok, Facebook, được xây dựng với ít hơn một nghìn dòng code và có khả năng hỗ trợ hàng triệu người dùng. Hiện tại, tồn tại một số ứng dụng trong hệ sinh thái IC:

Cơ sở hạ tầng

  • Fleek: giúp việc tạo các trang web và ứng dụng trên internet mở trở nên dễ dàng. Tất cả các sản phẩm của họ đều được xây dựng dựa trên các giao thức cơ bản hỗ trợ Web3, chẳng hạn như Internet Computer, IPFS, Filecoin và Ethereum. Nó đã huy động được 4 triệu đô la để xây dựng một lớp sản phẩm cơ sở bắt chước cơ sở hạ tầng web truyền thống mà bất kỳ ứng dụng hoặc trang web nào cũng cần như lưu trữ, cơ sở dữ liệu, xác thực và các chức năng không máy chủ. Nó cũng hỗ trợ Dịch vụ đặt tên Ethereum (Ethereum Naming Service - ENS) và dịch vụ tên miền phi tập trung (decentralized domain name - HNS) của Handshake. Hiện đã có 14.000 trang web đang chạy trên Fleek.
  • Dfinity Explorer: là một dashboard có nguồn mở, do cộng đồng xây dựng cho IC.

Ứng dụng phi tập trung

  • Origyn: là một nền tảng toàn ngành để theo dõi xuất xứ của hàng hóa xa xỉ, bắt đầu với đồng hồ sang trọng

Tài chính phi tập trung

  • Enso Finance: là một sàn giao dịch phi tập trung đã huy động được 5 triệu đô la trong vòng tài trợ private vào tháng trước vào tháng 4 năm 2021. Vòng này được dẫn đầu bởi Polychain, Dfinity, Multicoin, Spartan và một số công ty khác
  • Tacen: là một sàn giao dịch không thế chấp phi tập trung, hiệu suất cao, đã huy động được 2,3 triệu đô la
  • DfiStarter: là nền tảng IDO đầu tiên trên ICP, cung cấp các dịch vụ gây quỹ, quan hệ công chúng và tiếp thị, ngoài ra còn hỗ trợ công nghệ cho các dự án có kế hoạch phát triển trên IC
  • SailFish: là một gateway cho các dịch vụ tài chính mở. Đó là một sàn giao dịch phi tập trung tích hợp mạng xã hội.

Xã hội

  • Distrikt: là một mạng xã hội chuyên nghiệp phi tập trung. Bản mở của LinkedIn được DFINITY giới thiệu tại Davos tại WEF 2020 hiện đang được đưa ra thị trường. Họ đã huy động được 500.000 đô la tiền tài trợ ban đầu. Người dùng có thể kiểm soát danh tính tự chủ của mình và quản lý cộng đồng.
  • OpenChat: là Whatsapp bản IC - một phiên bản mở của ứng dụng trò chuyện tiêu chuẩn không thuộc sở hữu của một tập đoàn công nghệ lớn. Đó là một ứng dụng trò chuyện phi tập trung được xây dựng trên Internet Computer, với phần mềm giao tiếp mã hóa.
  • CanCan: là một ứng dụng chia sẻ video phi tập trung. Về cơ bản, nó là một phiên bản mở và được tokenized của TikTok, chạy trên Internet Computer và có thể được truy cập thông qua bất kỳ trình duyệt hoặc thiết bị di động nào. Nó cho thấy khả năng mở rộng và sức mạnh của Internet Computer.
  • Capsule Social: là một nền tảng truyền thông xã hội phi tập trung có khả năng chống kiểm duyệt. Công ty đã huy động được 1,5 triệu đô la từ Quỹ Beacon của Polychain Capital, định giá nó là 10 triệu đô la. Nó cũng có sự ủng hộ sớm từ Balaji Srinivasan, cựu CTO của Coinbase
  • Canistore: là một nhà cung cấp dịch vụ truyền thông phi tập trung hỗ trợ video, nhạc và văn bản. Nó tự tuyên bố là đại diện cho thế hội mạng xã hội thế hệ tiếp theo, cho phép người dùng tạo và chia sẻ nội dung mà không cần lo lắng về các rủi ro nền tảng, chẳng hạn như các thay đổi trong thuật toán ảnh hưởng đến xếp hạng và lượt theo dõi. Người dùng có thể kiếm được phần thưởng cho việc hoạt động tích cực, kiếm tiền bản quyền cho việc phân phối nội dung và cũng có thể tham gia quản trị.
  • Dscvr.one: là Reddit bản IC, với chức năng quản trị tùy chỉnh giúp quản lý các phát triển trong tương lai và đánh giá nội dung.

Các đánh giá

Độ nhạy cảm giá ICP tại genesis được ghi lại và có thể được cập nhật trong bảng tính dưới đây. Số lượng bị khóa càng cao, nguồn cung lưu thông càng thấp, giá càng cao.

Vì giao thức và hệ sinh thái của dự án vẫn còn mới, rất khó để kết luận một mức định giá công bằng cho ICP. Dữ liệu bắt đầu từ ngày 24 tháng 3 năm 2021 và có khoảng 120.000 message hàng ngày, tương đương với các giao dịch.

Tuy nhiên, nếu muốn so sánh giá trị của giao thức so với giá trị của hệ sinh thái, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách xem xét Terra (LUNA) và Polkadot (DOT). Tương tự như ICP, Terra có các dự án non-token như Chia, MemePay, PayWithTerra, BuzLink và Kash. Polkadot tương tự ở chỗ, mạng lưới hoạt động nhưng các dự án trong hệ sinh thái dự án không được khởi chạy trên nó và không có giá thả nổi vì các cuộc đấu giá parachain chưa bắt đầu.

Nếu chúng ta nhìn vào tỉ lệ Giá trị Hệ sinh thái / Giá trị lớp (xem bảng bên dưới), giá trị của token ERC-20 lớn hơn giá trị của Ether. Ở cấp thấp, LUNA có giá trị của hệ sinh thái bằng 14% vốn hóa thị trường lưu hành của LUNA. Nếu chúng ta giả định rằng giá trị hệ sinh thái của ICP so với giá trị lớp là 14% (như trường hợp của LUNA), thì chúng ta có thể ước lượng định giá của hệ sinh thái sẽ là 3 tỷ đô la. Để so sánh, số tiền gây quỹ được công khai cho các ứng dụng hệ sinh thái là ~ 10 triệu đô la, ngụ ý rằng ICP được định giá cao hơn các ứng dụng khác.

Dfinity có lẽ sẽ lập luận rằng việc thị trường mục tiêu của dự án lớn hơn giải thích cho việc định giá cao hơn. ICP đang cố gắng thay thế các IT legacy như Google, Oracle và AWS. Chỉ riêng cơ hội trong thị trường Đám mây có thể là 1 nghìn tỷ đô la:

Rủi ro

Dfinity sẽ ngay lập tức lọt vào danh sách top 10 tài sản trị giá lớn nhất. Rủi ro lớn nhất đối với giá cả là giao thức không được tôi luyện thông qua các trận chiến (battle-hardened). Code chỉ có nguồn mở trong thời điểm này và cần chờ thêm một thời gian để nó được mở cho việc xét kỹ lưỡng sau khi ra mắt. Dfinity đưa ra lý do rằng code của họ là bí mật thương mại để hạn chế việc forking và cạnh tranh. Difinity không chỉ cạnh tranh trong lĩnh vực tiền điện tử mà còn mở rộng sang Internet truyền thống.

Khối lượng giao dịch thấp của họ trước khi niêm yết là một vấn đề khác. Giá của FTX bằng khoảng một nửa so với giá được thấy trên Hoo và MXC chỉ vài ngày trước. Ngoài ra, tỷ lệ lạm phát tiềm ẩn cao cũng là một yếu tố cần xem xét khác. Cùng với DOT, FIL và CAKE có nguồn cung lưu hành thấp hơn, và do đó lạm phát cao hơn trong vài năm tới, ICP có một trong những nguồn cung lưu hành thấp nhất. Điều này có thể gây áp lực lên giá, đặc biệt nếu các chủ token không khóa ICP trong hệ sinh thái. Lịch trình vesting của một nửa số token của dự án - bao gồm cả những token do tổ chức nắm giữ, các thành viên trong nhóm và các quan hệ đối tác khác cũng không được công bố tại thời điểm viết bài.

Cuối cùng, Dfinity đã huy động được 120 triệu đô la từ các nhà đầu tư được công nhận và các công ty đầu tư mạo hiểm. Một số dự án đã gây quỹ thành công chỉ gây chú ý trong một thời gian nhất định (hype). Tuy nhiên, tồn tại nguy cơ rủi ro trong định giá sẽ khiến cộng đồng thu về quá ít lợi nhuận. Nếu không có một cộng đồng mạnh mẽ và cam kết, dự án có thể gặp phải những khó khăn khi ra mắt. Bù lại, cộng đồng nhà phát triển của Dfinity là một trong những cộng đồng phát triển nhanh nhất.

Source: Electric Capital
Source: Electric Capital

Cuối cùng, Dfinity có những kế hoạch đầy tham vọng và vốn hóa thị trường của nó phản ánh những tham vọng đó. Quỹ đã phát hành một lộ trình 20 năm, nơi họ hy vọng, trong vòng 5 năm, sẽ đạt được nhận thức rộng rãi về việc ICP là gì trong giới doanh nhân và người dùng cuối. Trong vòng 10 năm, họ hy vọng IC sẽ vượt mặt hệ sinh thái độc quyền khép kín của các công ty công nghệ lớn. Vốn sẽ được chuyển hướng khỏi các công ty internet truyền thống sang ICP và DeFi sẽ phù hợp với công nghệ tài chính truyền thống. Trong vòng 20 năm, họ hy vọng ICP sẽ vượt qua các hệ sinh thái công nghệ lớn khép kín, độc quyền. Với khoảng thời gian chưa dài kể từ khi mainnet ra mắt, còn quá sớm để khẳng định liệu Dfinity có một cộng đồng đủ tốt hoặc khả năng thực thi đủ mạnh để đạt được những mục tiêu này hay không. Hơn nữa, dự án đến với lớp 1 (Layer-1) khá muộn và sự cạnh tranh đã rất gay gắt ở giai đoạn này.

Phần kết luận

Dfinity có những mục tiêu lớn để tái định nghĩa Internet truyền thống. Nó thậm chí muốn chạy ETH 2.0 bên trong một canister trong IC. Tầm nhìn, mặc dù lớn, sẽ phụ thuộc vào khả năng thực thi của Dfinity. Hiện tại, dự án tương đồng với Solana ở cách các trung tâm dữ liệu của IC điều khiển các node xử lý thông điệp hoặc canister. Dự án cũng tương đồng với Ethereum 2.0, mặc dù Ethereum gần đây đã liên kết với DeFi và các giao dịch giá trị cao. Nhìn chung, sự cạnh tranh giữa các dự án Lớp 1 là rất gay gắt. Dfinity là người mới, cung cấp cho thế giới một mô hình và công nghệ mới. Dfinity đã ra mắt ở trung tâm của cuộc đua tăng giá, điều có lẽ mang lại sức gió cho cánh buồm của họ. Tuy nhiên, việc thành công tạo ra chiếc máy tính thế giới tối thượng mới chỉ mới bắt đầu.

---

Nội dung của báo cáo này được tạo ra bởi nhân viên của Messari, Inc. Báo cáo này phản ánh ý kiến của các tác giả và không đại diện cho ý kiến của Messari, Inc. Đây không phải là lời khuyên đầu tư và không phải là một tài liệu chào bán. Người đọc nên tiến hành nghiên cứu của riêng mình và tham khảo ý kiến của một cố vấn tài chính, thuế hoặc pháp lý độc lập trước khi đưa ra bất kỳ quyết định đầu tư nào. Xem điều khoản sử dụng của Messari để biết thêm thông tin.

Hết bài dịch.

Bạn đọc có thể cập nhật tình trạng giao dịch và vận hành trên của hệ sinh thái IC tại:

Bản dịch bởi Nguyễn Thuý Ngọc (BA, FPT Blockchain Lab)

Hiệu đính và đăng tải: Paven Do

Link gốc:

*** Team tôi vẫn đang tuyển thêm members để join Supernova Hackathon nhe ($6m lớn nhất từ trước tới nay). Project: "build bridge between ICP and UTXO-chains (Cardano, Dogecoin, Bitcoin). Inbox Tele @paven86 hoặc email thuat86@gmail.com nếu bạn quan tâm.

Arweave TX
NVAlBfqgqOXfLIVD-aeX1KzwdaJjhx-P5zYsIgNqTIg
Ethereum Address
0x0B88505fB14f8a0cdD94a9e34ea0677704edA453
Content Digest
y573RhyAhgQCW5S0XhHQFaPqf3n1IVgtXwxUENGpXEY